Ngày 27/07/2018 13:43:32
Tổng kết 10 năm thực hiện chương trình hành động của tỉnh ủy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Ngày 06/06/2018 huyện Vũng Liêm tổ chức hội nghị đánh giá 10 năm thực hiện chương trình hành động của tỉnh ủy Vĩnh Long về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”và 5 năm cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp

Ngày 06/06/2018 huyện Vũng Liêm tổ chức hội nghị đánh giá 10 năm thực hiện chương trình hành động của tỉnh ủy Vĩnh Long về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”và 5 năm cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp.


Huyện đã xây dựng huy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ - công nghiệp gắn với phát triển ngành nghề ở nông thôn đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030; Với nhiều nhiệm vụ giải pháp thường xuyên, lâu dài và một số nhiệm vụ, giải pháp mang tính đột phá.

Công tác tuyên truyền trong nội bộ và nhân dân được tăng cường qua đó đã nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, hội viên các đoàn thể và tạo được sự thống nhất cao và đồng thuận của toàn dân. Huyện cũng đã xây dựng và ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thực hiện phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Đồng thời huy động các nguồn lực về vốn từ Trung ương và ngân sách địa phương, vốn lồng ghép, vốn tính dụng và nguồn lực cộng đồng tổng số trên 3.133 tỉ đồng để thực hiện chương trình.10 năm qua, kể từ 2008 đến 2018 nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên địa bàn huyện phát triển tích cực theo hướng toàn diện và hiện đại.

Hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung cây, con chủ lực. Trồng trọt chuyển dịch theo hướng giảm dần diện tích trồng lúa kém hiệu quả, tăng diện tích trồng màu và cây ăn trái. Diện tích gieo trồng lúa giảm từ 41.270 ha (năm 2013) xuống còn 38.220 ha (năm 2017), trong đó diện tích trồng lúa cánh đồng mẫu đến tháng 5/2018 khoảng 3.500 ha (xã Tân An Luông 450ha, Hiếu Phụng 350ha, Hiếu Nhơn 600ha, Trung Hiếu 700ha, Trung Hiệp 400ha, Trung Ngãi 400ha, Trung An 600ha), tăng dần lúa hàng hóa, lợi nhuận tăng 10- 15% so sản xuất bên ngoài mô hình. Diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả chuyển sang trồng màu, trồng cây ăn trái. Cây màu 3.489,8 ha (năm 2013) tăng lên 5.568,8 ha (năm 2017). Cây ăn trái từ 6.844 ha (năm 2013) lên 7.932 ha (năm 2017); trong đó diện tích vườn kém hiệu quả được cải tạo và trồng bưởi da xanh tăng dần, từ 770 ha (năm 2013) lên 1.290 ha (năm 2017), năng suất 15 tấn/ha, thu nhập 300- 400 triệu đồng/ha/năm; sầu riêng 1.046ha, năng suất 17 tấn/ha/năm, thu nhập 500- 600 triệu đồng/ha; diện tích cam sành phát triển trồng trên đất ruộng trên 800 ha (trong đó xã hiếu nghĩa có gần 500 ha), năng suất 30 tấn/ha, thu nhập 200- 300 triệu đồng/ha/năm. Diện tích vườn cây ăn trái được áp dụng sản xuất VietGAP trên xoài 87,69 ha (Quới An, Trung Chánh, Quới Thiện); trên bưởi 69,2 ha (Thanh Bình, Quới Thiện); trên sầu riêng 25 ha (Thanh Bình).

Huyện xây dựng và duy trì hoạt động làng nghề trồng và chế biến sản phẩm từ cây lác xã Trung Thành Đông; quy hoạch làng nghề trồng cây ăn trái kết hợp du lịch miệt vườn xã Thanh Bình - Quới Thiện, bước đầu thu hút được khách du lịch trong và ngoài nước.

Chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp chiếm trên 80% so tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện. Đàn gia xúc ( bò, heo) thực hiện phương pháp gieo tinh nhân tạo nhằm cải tạo nâng cao tầm vóc, chất lượng đàn giống tại địa phương. Đàn bò của huyện đạt 30.840 con, so năm 2013 tăng 7.428 con. Đàn heo năm 2017 đạt 107.558 con, so năm 2013 tăng 28.969 con. Đàn gia cầm năm 2017 đạt 1.338.292 con, so năm 2013 tăng 357.836 con.

Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản tăng trưởng bình quân hàng năm 3,72%; Giá trị sản xuất nông nghiệp năm sau cao hơn năm trước. Riêng năm 2017 đạt 4.345 tỉ đồng, so năm 2008 tăng 2.235 tỉ đồng. Giá trị sản xuất bình quân trên đơn vị diện tích đất đạt 148 triệu đồng/ha. Tỉ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ngày càng nâng lên, đến nay chiếm khoảng 45,7%, từ đó năng xuất, hiệu quả lao động cũng nâng lên. Hiện thu nhập bình quân đầu người của huyện đạt 34 triệu đồng/người/năm, tỉ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện giảm dần còn 4,3% so tổng hộ dân. Giao thông nông thôn ngày càng mở rộng, thông suốt, 100% xã ô tô đến được trung tâm, 99,7% hộ dân có điện sử dụng, 74,5% hộ dân sử dụng nước máy tập trung, toàn huyện có 7/19 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Bên cạnh những kết quả đáng chú ý, 10 năm qua thực hiện phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bộc lộ một số hạn chế như huy động nguồn lực trong cộng đồng còn thấp, do một bộ phận nông dân chưa chủ động tham gia còn ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, bên cạnh đó nguồn lực hỗ trợ của nhà nước còn hạn chế, nên chưa phát triển mạnh và đồng bộ giữa phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; trong một số qui trình sản xuất chưa đảm bảo sạch, an toàn vì thế có nguy cơ bùng phát dịch bệnh và nguy cơ ô nhiễm môi trường./.

 

                                   Đào Nhiễn

Các tin khác